This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Điều trị hạ sốt an toàn cho trẻ

Có nhiều nguyên nhân gây sốt như: Nhiễm trùng, cảm nắng, mặc quá nhiều quần áo gây nóng, tiêm chủng, mọc răng… Ngoài ra, do đặc điểm địa lý ở Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết thường xuyên xảy ra, đặc biệt là vào những tháng giao mùa. Do đó, nắm được các phương pháp hạ sốt là điều cần thiết với các bà mẹ, đặc biệt là biết kết hợp các phương pháp này sẽ giúp các mẹ bình tĩnh xử trí sốt an toàn cho trẻ.

“Sốt” đáng lo lắng như thế nào?

Khi thân nhiệt vượt quá 37,5 độ C được coi là sốt. Hiện tượng này là bình thường, không để lại hậu quả nghiêm trọng bởi sốt cho phép cơ thể chống lại nhiễm trùng. Vì thế, trẻ sốt nhẹ không phải dùng thuốc, hãy để hệ miễn dịch của trẻ điều chỉnh và tự vệ.

 

Điều trị hạ sốt an toàn cho trẻ 1

Nếu trên 38,5ºC, sốt sẽ làm trẻ không được khỏe, có thể co giật (cơ bắp co thắt), ảnh hưởng đến thần kinh; một số trường hợp sau khi khỏi có thể tổn thương thần kinh, giảm trí nhớ…Do vậy, theo dõi nhiệt độ cơ thể trẻ thường xuyên để kịp xử trí đúng cách tại nhà là cần thiết trước khi đưa trẻ đến bệnh viện để bác sĩ xác định nguyên nhân.

Đo độ “sốt” của trẻ bằng gì?

Một cái hôn lên trán hoặc đặt tay nhẹ lên da trẻ đủ để biết trẻ có sốt hay không. Tuy nhiên, phương pháp này phụ thuộc nhiều vào cảm giác chủ quan và không cho biết chính xác nhiệt độ của trẻ. Hãy sử dụng cặp nhiệt độ đáng tin cậy, mẹ sẽ biết trẻ có bị sốt hay không. Các mẹ có thể đo nhiệt độ ở nách, đủ thời gian (trên 5 phút) và đúng cách (đầu nhiệt kế vào tận cùng của hõm nách).

Hạ sốt an toàn cho trẻ

 Khi sốt, trẻ sẽ khó chịu, quấy khóc, bứt rứt trong người. Tuy nhiên, khi trẻ sốt cao trên 38,5oC, mới phải dùng đến thuốc hạ sốt Paracetamol (liều lượng theo đúng hướng dẫn sử dụng thuốc), khoảng thời gian giữa hai lần uống thuốc ít nhất là 4-6 giờ; không được cho trẻ uống quá 5 lần paracetamol/ngày vì có nhiều nguy cơ tiềm ẩn gây hại cho gan của trẻ. Trong một số trường hợp, dù đã uống thuốc mà không có biểu hiện hạ nhiệt hoặc vừa uống thuốc được 30 phút trẻ bị nôn chớ, các mẹ không được tăng liều hay cho uống lại thuốc hạ sốt ngay. Đừng để gan của trẻ bị ảnh hưởng xấu chỉ vì dùng thuốc không đúng cách.

Điều trị hạ sốt an toàn cho trẻ 2
Không thể bỏ qua các biện pháp phối hợp

Chườm mát, theo cách tiện dùng như hiện nay là sử dụng miếng dán hạ sốt KOOLFEVER (hãy hỏi nhà thuốc vì đây là sản phẩm nổi tiếng số 1 Nhật Bản). Phương pháp hạ sốt vật lý này cần thiết được phối hợp ngay cả khi trẻ phải uống thuốc. Cách này nhằm giúp trẻ được hạ sốt ổn định và kéo dài thời gian cơn sốt có thể quay trở lại, do đó, hạn chế được lượng thuốc đưa vào cơ thể trẻ.  Vì được cấu tạo là một lớp gel chứa nước và các hạt làm mát, không chứa bất kỳ thành phần thuốc nào, nên KOOLFEVER có thể dùng kết hợp điều trị hạ sốt cho trẻ trong nhiều trường hợp như: sốt nhẹ khi chưa phải dùng thuốc, phối hợp với thuốc  hạ sốt khi  trẻ sốt cao; các mẹ nên chườm thêm miếng dán hạ sốt này để lớp gel nước hấp thụ nhiệt, giúp trẻ bớt bứt rứt, giảm nguy cơ co giật….Ngoài ra, miếng dán hạ sốt KOOLFEVER, nổi tiếng số 1 Nhật Bản an toàn với trẻ nhỏ, ngay cả khi sốt có nghi ngờ hay biểu hiện sốt xuất huyết, các mẹ vẫn có thể dùng cho trẻ vì nó hạ sốt theo cơ chế vật lý tự nhiên, không tác động thêm hóa chất vào cơ thể trẻ.

Nguyên tắc tiếp theo là bù dịch không được bỏ qua trong điều trị sốt. Hãy đảm bảo con bạn uống đủ nước (oresol, nước lọc…) và ăn thức ăn dễ tiêu.

Nguyễn Thị Thu Hương

 

Dấu hiệu sớm của bệnh bạch hầu thanh quản

Tôi nghe nói bệnh bạch hầu thanh quản rất nguy hiểm, thậm chí có thể tử vong do tắc thở. Xin bác sĩ cho biết những dấu hiệu sớm của bệnh? Làm thế nào để phòng tránh?

Phạm Thu Nga (Hà Nội)

Bạch hầu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn bạch hầu (Corynebacterium diphtheria) gây ra. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng trẻ 2-7 tuổi là hay gặp nhất. Nguồn lây chủ yếu là người bệnh sang người lành khi nói chuyện, ho hắt hơi... Tiếp theo thời kỳ ủ bệnh chừng 2-4 ngày, trẻ bị khó chịu, nhức đầu và đau không rõ rệt, nếu họng bị đau thì đau không nhiều, chỉ viêm họng âm ỉ. Sau đó bệnh cục bộ xuất hiện tùy vị trí khởi đầu nơi vi khuẩn sinh sản. Trên lâm sàng thường gặp 3 thể là bạch hầu mũi, bạch hầu họng - amidan và bạch hầu thanh quản. Bạch hầu thanh quản chiếm khoảng 1/4 các trường hợp, có thể bạch hầu họng lan xuống nhưng cũng có thể do bệnh tại chỗ. Thể này phổ biến ở trẻ còn bú. Các triệu chứng bắt đầu là tiếng ho khan rồi thở rít. Tình trạng co kéo các cơ hô hấp và vẻ mặt sợ hãi do tắc nghẽn hô hấp ngày càng gia tăng, có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời. Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và cực kỳ nguy hiểm.

Người mắc bệnh bạch hầu nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thần kinh, thận, nguy cơ gây tắc nghẽn đường thở đưa đến hôn mê và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Đây là bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm, vì vậy khi bị bạch hầu cần được điều trị tích cực tại cơ sở y tế bằng kháng sinh và theo dõi sát biến chứng của bệnh tránh tử vong do tắc thở và đột ngột trụy tim mạch... Phòng bệnh bạch hầu: Đối với người nhiễm bệnh bạch hầu, cần cách ly bệnh nhân và đeo khẩu trang khi tiếp xúc. Ngoài ra, cần vệ sinh phòng ở, đồ dùng cá nhân, đồ chơi... bằng dung dịch sát khuẩn. Tiêm vắc-xin là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh bạch hầu.

BS. Trần Kim Anh

Tim bẩm sinh

Tứ chứng Fallot: Là dị tật bẩm sinh phức tạp với 4 dị tật (nên gọi là tứ chứng) bao gồm: động mạch chủ lệch sang phải, hở vách liên thất, hẹp động mạch phổi và phì đại tâm thất phải. Dấu hiệu đầu tiên của bệnh là tím ngay từ khi mới sinh. Môi và đầu chi của trẻ bị tím nhất là khi khóc hoặc khi bú, có khi trẻ bị ngất. Các đầu ngón tay chân có hình dùi trống, móng tay khum. Nghe tim sẽ thấy tiếng thổi. Nếu không được điều trị trẻ dễ bị biến chứng gây tử vong là áp-xe não. Do vậy, khi trẻ mắc tứ chứng Fallot, chỉ có các phẫu thuật mới giúp trẻ có cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh. Có thể mổ tạm thời khi các nhánh của động mạch phổi quá nhỏ, dùng một nhánh từ đại tuần hoàn (thường lấy động mạch dưới đòn) nối với động mạch phổi, giúp trẻ trao đổi ôxy được tốt hơn nên đỡ tím. Sau khoảng 5-10 năm sẽ mổ triệt để, sửa chữa toàn bộ cho trẻ. Hoặc có thể phẫu thuật triệt để với máy tim phổi nhân tạo, phẫu thuật viên sẽ sửa triệt để các dị tật, trẻ có thể có cuộc sống như bình thường.

Khi có nghi ngờ trẻ bị bệnh tim cần đưa trẻ tới cơ sở y tế để được khám và điều trị.

Hẹp eo động mạch chủ: hẹp eo động mạch chủ là dị tật tim bẩm sinh thường gặp. Bệnh gặp ở trẻ nam nhiều gấp 3 lần trẻ nữ. Cứ 5 trẻ bị suy tim thì có 1 cháu có nguyên nhân là hẹp eo động mạch chủ.

Khi bị hẹp eo động mạch chủ ở trẻ nhỏ, bệnh có thể chỉ biểu hiện bằng những dấu hiệu mệt, trống ngực hay đau đầu. Nếu không được phát hiện và điều trị trẻ có thể gặp những biến chứng ở trên chỗ hẹp như xuất huyết não, suy tim, mờ mắt... do hậu quả của tăng huyết áp. Còn biến chứng dưới chỗ hẹp là thiếu máu hai chân, đi lại khó khăn do hậu quả của huyết áp thấp.

Do vậy, hẹp eo động mạch chủ cần được điều trị bệnh sớm sẽ giúp trẻ nhanh chóng hồi phục và tránh các di chứng. Phẫu thuật cắt bỏ chỗ hẹp nối lại động mạch chủ giúp máu lưu thông lại bình thường. Phẫu thuật cho kết quả tốt. Tuy nhiên, việc chẩn đoán chứng hẹp eo động mạch chủ tuy không khó, nhưng bệnh nhân thường bị chẩn đoán nhầm thành bệnh còn ống động mạch, giãn cơ tim... Siêu âm có thể không chính xác. Cần quan tâm đến các triệu chứng như chênh huyết áp chi dưới và chi trên, tăng huyết áp.

Hẹp van động mạch phổi: hẹp van động mạch phổi là bệnh bẩm sinh, chiếm 10 - 15% các bệnh tim bẩm sinh. Nguyên nhân trẻ mắc bệnh là do trong giai đoạn đầu thai nhi, mẹ bị nhiễm virut Rubella, rối loạn chuyển hóa canxi và vitamin D, làm giảm khả năng phát triển bình thường của động mạch phổi, máu từ tâm thất phải được bơm lên phổi qua van động mạch phổi. Khi van bị hẹp, máu qua van rất khó khăn khiến thất phải phải cố gắng bóp thật mạnh, dần dần thất phải bị suy.

Hẹp van động mạch phổi có nhiều mức độ: từ nhẹ đến nặng, và tùy từng trường hợp mà được theo dõi hoặc can thiệp. Nếu hẹp nhẹ: chỉ theo dõi định kỳ. Nếu hẹp nặng: thông tim để nong van bằng bóng qua da, có kết quả khả quan. Ngoài ra có thể phẫu thuật mở rộng chỗ van bị hẹp.

Thông liên nhĩ: Thông liên nhĩ là tình trạng còn tồn tại một hay nhiều lỗ thông bất thường ở vách liên nhĩ sau khi sinh. Lỗ thông thứ phát nằm ở phần cao của vách liên nhĩ, lỗ thông tiên phát nằm ở phần thấp, có thể đơn thuần hoặc kèm theo bất thường ở nội mạc và một số ít ở vị trí xoang tĩnh mạch, xoang vành. Hai tâm nhĩ bình thường cách nhau bằng một vách ngăn và phân thành tâm nhĩ phải và tâm nhĩ trái. Do khuyết tật trong thời kỳ bào thai mà vách ngăn này có lỗ thủng làm hai tâm nhĩ thông với nhau khiến máu từ nhĩ trái chảy qua nhĩ phải khiến cho tim phải giãn to, máu lên phổi nhiều, áp lực trong động mạch phổi tăng dần dẫn đến suy tim phải gây phù, gan to. Nếu không điều trị, áp lực tim phải tăng dần và máu sẽ chảy từ nhĩ phải sang nhĩ trái sẽ khiến bệnh nhân xuất hiện tím: tím môi, tím các đầu ngón tay chân và bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật nữa.

Bệnh thường tiến triển chậm và lặng lẽ nên khó phát hiện. Đôi khi phát hiện bệnh tình cờ khi khám sức khỏe. Nghe tim phải thấy một tiếng thổi êm dịu. Để chẩn đoán xác định, cần làm siêu âm tim sẽ phát hiện được lỗ thông liên nhĩ, đo được kích thước lỗ thông, áp lực trong động mạch phổi.

Để điều trị, nếu lỗ thông nhỏ và tổn thương phù hợp có thể can thiệp nội mạch bít dù. Ngược lại thì bắt buộc phải mổ để vá lỗ thông bằng miếng vá nhân tạo hoặc bằng chính màng tim của bệnh nhân.

Nên mổ trước khi đi học để trẻ có thể phát triển bình thường như những trẻ khác.

Thông liên thất: thông liên thất là bệnh tim bẩm sinh hay gặp nhất, chiếm khoảng 25% các bệnh tim bẩm sinh. Do khuyết tật trong quá trình hình thành lúc bào thai, hai tâm thất có thể thông với nhau bằng một hay nhiều lỗ thủng. Lỗ thông này có thể ở những vị trí khác nhau và kích thước cũng khác nhau.

Thông liên thất sẽ làm cho dòng máu đi từ thất trái sang thất phải làm cho phổi ứ máu, áp lực trong động mạch tăng cao, dần dần dòng máu này cũng đảo chiều gây tím môi và các đầu ngón, không còn khả năng mổ nữa.

Chẩn đoán bệnh không phức tạp. Khi trẻ còn nhỏ có thể không có biểu hiện gì, trẻ hay bị viêm phổi. Nghe tim sẽ thấy tiếng thổi tâm thu. Nếu không được phát hiện và điều trị, có thể có dấu hiệu khó thở, mất khả năng gắng sức. Siêu âm tim sẽ thấy rõ vị trí, kích thước lỗ thông, đánh giá mức độ của dòng thông và áp lực động mạch phổi, giúp cho điều trị và tiên lượng.

Điều trị chủ yếu là mổ vá lỗ thông với tuần hoàn ngoài cơ thể. Ngoài ra có thể đóng lỗ thông bằng dụng cụ qua da, phương pháp này hiện nay đã được áp dụng tại nhiều trung tâm can thiệp mạch và có kết quả khả quan.

Khi trẻ chưa được phẫu thuật hay điều trị triệt để, cần phòng một biến chứng chính là nhiễm trùng. Từ một ổ nhiễm trùng nhỏ như viêm họng, sâu răng... có thể dẫn đến viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn rất nguy hiểm.

BS. Tuấn Anh

Ngăn chặn bệnh tay - chân

Theo Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế, trong hai tuần gần đây, cả nước có tới 28 tỉnh, thành đã có trẻ mắc bệnh tay-chân-miệng (TCM). Tính từ đầu năm 2013 đến nay, mỗi tuần có khoảng 1.000 trường hợp trẻ mắc bệnh TCM, đặc biệt độc lực của virut týp EV 71 rất mạnh. Đây là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, gặp chủ yếu ở trẻ nhỏ (90%), đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi. Tuy vậy, chưa có vaccin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh này. Do đó, việc phòng và ngăn chặn dịch trở nên cấp thiết.

Nguyên nhân gây bệnh TCM là do Enterovirus (nhóm virut đường ruột) gây ra, thường gặp nhất là chủng virut Coxsackie A16. Trong những năm gần đây, ở khu vực Đông Nam châu Á, trong đó có Việt Nam, xuất hiện những vụ dịch bệnh TCM do Enterovirus týp 71 (EV71) gây nên. Khác với các chủng Coxsackie cổ điển, chủng Enterovirus týp 71 có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm não, màng não, viêm cơ tim, viêm phổi và có thể dẫn đến tử vong. Năm nay, qua một trường hợp trẻ nhỏ 4 tháng tuổi tử vong do bệnh TCM chưa đầy một ngày sau khi bị bệnh ở An Giang (26/2) cho thấy, chủng virut EV 71 gây bệnh có độc tính rất cao.

Ngăn chặn bệnh tay - chân - miệng, cách gì? 1 Rửa tay bằng xà phòng để phòng bệnh.
Cần phân biệt với triệu chứng của các bệnh khác

Biểu hiện sớm nhất của bệnh là mệt mỏi, sốt nhẹ (38 - 38,5oC), có trường hợp sốt cao hơn, đau họng, sổ mũi tương tự như viêm hô hấp trên. Đôi khi trẻ có nôn mửa, rất mệt, quấy khóc. Các biểu hiện này diễn ra chỉ trong vài ba ngày rồi chuyển sang giai đoạn toàn phát. Đầu tiên là sự xuất hiện các mụn nước ở niêm mạc miệng, thường là ở mặt trong má, lợi, mặt bên của lưỡi. Các mụn nước có kích thước nhỏ khoảng vài ba milimét nằm trên một nền niêm mạc viêm đỏ. Các mụn nước trong miệng nhanh chóng bị vỡ và tạo ra các vết loét gây đau đớn cho trẻ nhất là khi ăn, uống, nuốt nước bọt. Các mụn nước, bọng nước màu xám, hình bầu dục cũng có thể xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông của trẻ. Các mụn nước, bọng nước tồn tại khoảng từ 1 - 2 tuần, ít gây đau và tự khỏi. Bệnh lây cho trẻ em lành khác (nếu trẻ đó chưa có miễn dịch) qua đường hô hấp (trực tiếp qua hơi thở, các giọt nước bọt bắn ra khi ho, nói, cười, hắt hơi). Và bệnh cũng có khả năng lây lan qua dụng cụ đồ chơi, dụng cụ ăn uống bị nhiễm virut EV71. Virut EV71 cũng có khả năng đào thải qua phân trong vòng vài tuần sau, từ phân virut lây theo đường thức ăn, nước uống, dụng cụ đồ chơi. Sau khi khỏi bệnh, cơ thể bệnh nhân có miễn dịch với chủng virut gây bệnh, nhưng một trẻ có thể bị bệnh TCM nhiều lần nếu lần sau bị nhiễm các chủng virut khác với lần trước. Bệnh có loại biểu hiện không điển hình như bọng nước rất ít, xen kẽ với những nốt hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bọng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần. Đặc biệt là một số trường hợp bệnh không điển hình, chỉ loét miệng rất dễ nhầm với loét miệng do nhiệt hoặc do Herpes. Và bệnh cũng có thể nhầm với bệnh thủy đậu, viêm da có mủ, nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu, sốt xuất huyết Dengue, sốt phát ban, dị ứng da. Đáng lo ngại nhất của bệnh TCM là biến chứng có thể xảy ra như viêm màng não - não (gây liệt kiểu bại liệt), viêm cơ tim cấp, viêm phổi, phù phổi và có thể tử vong.

Phòng bệnh và chăm sóc thế nào?

Mặc dù bệnh có khả năng gây thành dịch lớn, chủ yếu ở trẻ nhỏ và có thể gây biến chứng nguy hiểm nhưng chưa có vaccin phòng bệnh đặc hiệu. Vì vậy, việc thực hiện các biện pháp phòng bệnh chung là hết sức cần thiết, đặc biệt là ở những địa phương đang có dịch TCM xảy ra. Cần rửa tay sạch cho trẻ bằng xà phòng dưới vòi nước, nhất là sau khi đi vệ sinh, trước và sau khi ăn. Việc làm này cũng được thực hiện cho các cô nuôi dạy trẻ và nhân viên nhà bếp. Với những người chăm sóc trẻ, cần lưu ý rửa tay sau mỗi lần thay tã lót, làm vệ sinh cho trẻ. Cần rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi, sàn nhà bằng nước và xà phòng, rồi khử khuẩn bằng cloramin B 5%. Trong lớp học, trong gia đình đã có trẻ bị bệnh TCM thì cần đeo khẩu trang cho trẻ để khi trẻ ho, hắt hơi, virut không khuếch tán vào không khí. Nên cách ly trẻ bệnh tại nhà cho đến khi khỏi bệnh (thường ít nhất là 7 ngày). Vì trẻ biếng ăn hoặc bỏ ăn do đau trong miệng (miệng loét), mệt mỏi hay quấy khóc nên thức ăn phải nấu thật nhuyễn, mềm, đủ chất và không nóng để cho trẻ có cảm giác ngon miệng khi ăn và quên đi sự đau đớn. Trẻ có thể ăn sữa chua, sữa bột pha hoặc bột dinh dưỡng, cháo nấu thật nhuyễn, súp hầm kỹ và uống nước hoa quả tươi.         

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

Ổ dịch lớn nhất của bệnh TCM tại Ấn Ðộ đã diễn ra trong năm 2007 ở khu vực phía Ðông của đất nước với hàng trăm trẻ mắc bệnh. Nhiều đợt dịch tương tự cũng xảy ra ở Singapore (hơn 2.600 trường hợp mắc bệnh vào ngày 20/4/2008). Ở Mông Cổ, Brunei và Việt Nam đều xuất hiện bệnh TCM. Từ đó cho đến năm 2010, nhiều nước ở châu Á như Singapore, Indonessia, Trung Quốc, Malaysia, Philippine, Việt Nam, năm nào cũng có bệnh TCM xuất hiện.

Ăn thức ăn quá nóng có gây hại?

Hoàng Thị Thương (Kon Tum)

Ngoài tác dụng kích thích làm cho ngon miệng, ăn nóng làm tăng tỷ lệ hấp thu các chất dinh dưỡng, nhất là protid của cơ thể, khi ăn nóng cơ thể hấp thu được 85,7% protid, nhưng ăn nguội chỉ hấp thu được 79%; tiết kiệm được năng lượng vì không phải mất thêm năng lượng để hâm nóng thức ăn trong quá trình tiêu hóa; tiết kiệm vitamin, nhất là vitamin C.

Tuy nhiên, nếu nhiệt độ của thức ăn quá lớn lại có hại cho sức khỏe. Cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào cho thấy dùng thực phẩm quá nóng sẽ dẫn tới ung thư vòm họng. Dù vậy, những người có thói quen dùng đồ ăn, thức uống quá nóng (nhiệt độ trên 70 độ C) sẽ có nhiều nguy cơ mắc các chứng bệnh nguy hiểm về đường tiêu hóa.

Bên cạnh đó, niêm mạc miệng và niêm mạc hệ tiêu hoá rất mỏng nên dễ bị tổn thương, nếu dùng thức ăn quá nóng lâu ngày sẽ gây viêm loét đường tiêu hóa, dần dần dẫn đến bệnh loét dạ dày, thực quản, hành tá tràng. Riêng vùng miệng là nơi tiếp xúc đầu tiên với thực phẩm ở nhiệt độ cao nhất sẽ dễ bị bỏng, rát, dẫn tới hình thành các vết trợt gây đau đớn, thậm chí dẫn tới viêm miệng, lưỡi, viêm họng, viêm thực quản, dạ dày...

Bác sĩ Tuyết Mai

Ðiều trị răng cho trẻ bằng phương pháp gây mê

Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt vừa phối hợp với Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tiến hành điều trị răng cho trẻ em bằng phương pháp gây mê. Thông thường, việc điều trị răng được thực hiện tại ghế nha khoa, bệnh nhân hợp tác theo hướng dẫn của bác sĩ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nếu bệnh nhân không hợp tác, nhất là bệnh nhi nhỏ tuổi thì biện pháp gây mê sẽ được thực hiện để điều trị sâu răng.

Trường hợp điển hình

Chị Nguyễn Thị Minh, quê Lào Cai cho biết, bé Trịnh Ngọc Mai là con thứ 2 trong gia đình, sau khi con mọc răng khoảng 5-6 tháng, chị phát hiện bé bị răng sâu nên đưa đi khám nhiều nơi nhưng bé không hợp tác. Hậu quả là hiện nay bé 4 tuổi đã bị sâu 20 răng: hàm trên các răng hàm, thân răng sâu, vỡ gần hết, các răng cửa mất hết thân còn chân. Hàm dưới tất cả các răng đều sâu, mất gần hết thân răng... Tình trạng đau răng khiến bé quấy khóc, khó ăn uống. Tình cờ chị được giới thiệu đến Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Đại học Y Hà Nội. Tại đây, sau khi các bác sĩ khám, có chỉ định điều trị răng gây mê cho cháu. Sau 4 giờ điều trị tủy cho 12 răng, chụp thép 8 răng hàm sữa bảo vệ thân răng, đảm bảo bệnh nhân ăn nhai. Ngày thứ hai sau điều trị, bé không đau, không sưng, ăn uống bình thường. Đặc biệt, bé rất vui vẻ khi gặp lại các bác sĩ, y tá đã điều trị cho bé và không hề có chút sợ hãi.

Hình ảnh răng của bé Mai trước khi điều trị.

Giúp trẻ an toàn khi điều trị răng

TS. Trần Mỹ Hạnh, Phó Trưởng bộ môn Răng trẻ em, Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, bác sĩ chính điều trị cho bé Mai cho biết, phương pháp này đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện, nhưng Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt hiện là một trong những cơ sở đầu tiên trong cả nước tiến hành điều trị răng dưới gây mê cho trẻ em.

Gây mê có ảnh hưởng ít nhiều đến sức khoẻ, nhưng chỉ là ảnh hưởng tạm thời trong thời gian ngắn các bé sẽ phục hồi. Đây là phương pháp chữa răng cho các bé mà các nước tiên tiến trên thế giới đã áp dụng. Các bé ngay sau khi được sinh ra, nếu cần thiết, đã có thể tiến hành gây mê. Tuy nhiên, gây mê cho các các bé rất khó, đòi hỏi bác sĩ gây mê phải có trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị hiện đại. Nếu bé có chỉ định điều trị răng gây mê, bé sẽ được tiến hành điều trị gây mê tại các Bệnh viện có uy tín đầy đủ trang thiết bị và các bác sĩ có đầy đủ chuyên môn.

Đối với trẻ bị sâu răng, thông thường tùy theo mức độ nặng nhẹ mà bác sĩ sẽ chỉ định cách điều trị khác nhau như: trám kiểm soát sâu răng, trám răng, làm chụp bảo vệ thân răng... Nếu sâu răng lan đến tủy thì phải điều trị tủy nếu không trẻ sẽ đau đớn, ảnh hưởng đến ăn uống, sức khoẻ của trẻ, nhiễm trùng từ tủy lan rộng có thể ảnh hưởng đến mầm răng vĩnh viễn bên dưới hoặc đôi khi có trường hợp gây ra các áp-xe tại chỗ, thậm chí có thể gây nhiễm trùng máu.

Điều trị răng cho các bé, điều quan trọng nhất là làm sao để các bé hợp tác, tiếp nhận điều trị vui vẻ. Để điều trị tốt cho bé, trước hết các bác sĩ phải làm cho bé tin tưởng, dành nhiều thời gian nói chuyện với bé, thậm chí có thể làm mẫu cho các bé, cho bé quen dần với quá trình điều trị, kiên nhẫn giải đáp các thắc mắc của bé. Điều quan trọng nhất: Không làm bé sợ!

Với trẻ quá nhỏ hoặc trẻ không chịu hợp tác thì việc điều trị răng miệng được thực hiện tại ghế nha khoa tiềm ẩn những nguy cơ gây nguy hiểm cho trẻ: các dụng cụ (trâm gai, trâm dũa, dụng cụ quay...) có thể gây tổn thương niêm mạc miệng của trẻ - nếu bác sĩ và điều dưỡng không quản lý trẻ tốt, nhất là những trẻ đang quấy khóc. Đặc biệt việc giữ bé để điều trị có thể gây sang chấn tâm lý cho bé, sẽ để lại những ấn tượng khủng khiếp khó phai mờ trong tâm trí trẻ. Do đó phương pháp điều trị răng dưới gây mê là giải pháp tối ưu.

Hình ảnh răng sau 4 giờ được các bác sĩ điều trị.

Cùng lúc giải quyết tất cả các vấn đề răng - miệng

TS. Nguyễn Thị Châu, Phó Giám đốc Trung tâm kỹ thuật cao khám chữa bệnh răng hàm mặt (Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt) cho biết, nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sâu răng tiến triển sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc ăn nhai, phát âm của trẻ. Để điều trị phục hồi chức năng và thẩm mỹ cho bộ răng của trẻ phải tốn nhiều thời gian, chi phí và cần sự hợp tác tốt giữa bác sĩ với bệnh nhi cũng như gia đình. Điều này lại không dễ đối với trẻ nhỏ dưới 5 tuổi.

Điều trị răng dưới gây mê còn thường được thực hiện cho những đối tượng bệnh nhân có các bệnh nội khoa nghiêm trọng: bệnh tim mạch, bệnh máu... bệnh nhân nhỏ tuổi, sâu nhiều răng, thiếu hợp tác với bác sĩ dù đã trải qua các biện pháp tâm lý cần thiết.

TS. Trần Mỹ Hạnh chia sẻ, điều trị răng dưới gây mê giúp trẻ em tránh được những tác động xấu về tâm lý, còn các bậc cha mẹ thì đỡ mất nhiều thời gian và tiền bạc. Đặc biệt, phương pháp này sẽ giúp bác sĩ thao tác tốt, thoải mái, chủ động kiểm soát cầm máu và chống nhiễm khuẩn, hơn nữa có thể theo dõi chặt chẽ các yếu tố sinh tồn của bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị.

Thanh Hà

Trẻ bị chảy máu cam

Khoang trong của mũi chứa nhiều mạch máu nhỏ, khi khu vực này bị khô (hoặc bị kích thích) sẽ dẫn tới hiện tượng chảy máu. Các yếu tố gây nên chứng chảy máu cam ở bé là dị ứng; bé bị cảm lạnh; bé bị nhiễm trùng xoang; mũi của bé thiếu độ ẩm và những kích thích khác (ngoáy mũi, có vật lạ trong mũi, bị chấn thương mũi).

Thỉnh thoảng, nguyên nhân gây chảy máu cam có thể do trục trặc ở kết cấu mũi, ví dụ: cấu trúc dị thường hoặc sự phát triển không bình thường ở mũi.

Trẻ bị chảy máu cam - có nguy hiểm? 1

Cách cầm máu

Trước tiên, bạn nên bình tĩnh, dỗ dành bé. Chảy máu cam là dấu hiệu dễ gặp nhưng hiếm khi để lại hậu quả nghiêm trọng.

Bạn nên ôm bé trong lòng và khẽ nghiêng người bé, ngả về phía sau. Tiếp đến, bạn dùng một chiếc khăn sạch, mềm thấm và dịt nhẹ vào lỗ mũi của bé. Có thể giữ động tác này trong vài phút, cho đến khi máu ở mũi bé ngừng chảy. Cùng thời gian này, bạn có thể “gây nhiễu” sự chú ý bằng cách hát cho bé nghe, cho bé xem một cuốn sách hoặc phim hoạt hình (tùy vào độ tuổi của bé).

Sau vài phút, bạn thử kiểm tra xem bé còn chảy máu nữa không. Nếu máu còn chảy, bạn có thể dùng một chiếc khăn sạch, mềm khác, tiếp tục dịt vào lỗ mũi bị chảy máu cho bé. Dùng một miếng gạc mát, chườm sống mũi cho bé cũng có tác dụng giúp cầm máu. Nếu các mẹo trên không hiệu quả, bạn nên đưa bé đi khám.

Lưu ý: không nên nghiêng người bé quá mức, không đặt bé nằm ngửa vì máu từ lỗ mũi của bé có thể chảy xuống cổ họng, gây nên vị khó chịu và làm bé bị nôn (trớ).

Cũng không nên dùng bông để cầm máu cam vì khi máu thấm vào bông sẽ làm cục bông tăng thể tích, có thể gây nghẽn ở mũi bé.

Ngăn ngừa

Nếu không khí trong phòng trở nên khô, bạn có thể dùng máy tạo độ ẩm cho bé. Không nên cho bé nhét bất kỳ vật gì vào lỗ mũi. Nếu bé có thói quen ngoáy mũi, bạn nên tìm cách giữ cho đôi tay của bé được bận rộn.

Trao đổi với bác sĩ nếu bạn cho rằng bé mắc dị ứng - yếu tố có thể gây nên chứng chảy máu cam. Bạn cũng có thể hỏi ý kiến bác sĩ về dung dịch muối, để nhỏ mũi và vệ sinh mũi cho bé.

Dấu hiệu phải lo lắng

Thông thường, hiện tượngđổ máu cam ít nguy hiểm. Các bé dễ bị chảy máu cam trong thời tiết mùa đông, khi không khí trở nên khô và cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn hơn. Bạn cũng có thể nhận thấy những vệt máu khô, chảy ra từ mũi của bé vào buổi sáng (do bé chảy máu cam khi ngủ).

Tuy nhiên, nếu bé xuất hiện những dấu hiệu sau, bạn nên đưa bé đi khám:

- Chảy máu cam sau khi bé bị ngã hoặc do bị va đập vào vùng đầu hoặc vùng mũi.

- Bé bị mất khá nhiều máu do chảy máu cam. Ngay khi bạn nhận thấy việc cầm máu cho bé không thành công, bạn nên nhanh chóng đưa bé đi khám.

- Bé dùng một loại thuốc mới; sau đó, bé bị chảy máu cam không ngừng.

- Bé chảy máu cam thường xuyên.

- Vừa chảy máu cam, bé vừa bị chảy máu ở bộ phận khác trên cơ thể (chẳng hạn ở lợi).

BS. NGUYỄN NGỌC LAN